Thanh tra chỉ ra các điểm nghẽn trong quy trình cấp tín dụng
Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 13 vừa ban hành Kết luận thanh tra số 07/KL-TTRA đối với Ngân hàng TNHH MTV Public Việt Nam – Chi nhánh Long An, đồng thời công bố Thông báo kết luận thanh tra số 09/TB-TTRA.

Tính đến ngày 31/10/2025, chi nhánh Long An ghi nhận vốn huy động đạt 64,774 tỷ đồng, dư nợ cho vay đạt 377,572 tỷ đồng. Đơn vị chính thức đi vào hoạt động từ ngày 27/10/2023, đặt trụ sở tại số 257–259 đường Hùng Vương, khu phố Bình Cư 3, phường Long An, tỉnh Tây Ninh, với 21 nhân sự do ông Lê Danh Sỹ làm Giám đốc.
Theo đánh giá của cơ quan thanh tra, chi nhánh đã thực hiện đúng quy định về phòng, chống rửa tiền và tài trợ khủng bố; tuân thủ việc phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro tín dụng; đảm bảo quy trình, thủ tục và điều kiện cho vay theo quy định pháp luật.
Tuy nhiên, một số tồn tại vẫn được ghi nhận, chủ yếu liên quan đến công tác thẩm định trước cho vay cũng như kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay sau giải ngân. Dù mức độ rủi ro được đánh giá chưa nghiêm trọng, cơ quan quản lý yêu cầu chi nhánh phải sớm khắc phục để đảm bảo an toàn hoạt động lâu dài. Trên cơ sở đó, Chánh Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 13 đã đưa ra 9 kiến nghị và khuyến nghị nhằm hoàn thiện quy trình.
Chi nhánh Bình Dương: tồn tại xuất phát từ cả yếu tố khách quan và chủ quan
Trước đó, Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 cũng tiến hành thanh tra trực tiếp chi nhánh Bình Dương trong 15 ngày (từ 19/12/2025 đến 10/01/2026) và ban hành Kết luận thanh tra số 08/KL-TTRA.BD.
Chi nhánh này đặt trụ sở tại số 306 Đại lộ Bình Dương, phường Phú Lợi, gồm 1 trụ sở chính và 1 phòng giao dịch trực thuộc; Giám đốc chi nhánh là ông Trương Quang Sơn.
Sau hơn 22 năm hoạt động, chi nhánh được ghi nhận đã tích cực triển khai các giải pháp tăng trưởng tín dụng và thực hiện các chương trình hỗ trợ phục hồi kinh tế theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, quá trình thanh tra cũng chỉ ra một số hạn chế trong hoạt động.
Nguyên nhân được xác định đến từ cả yếu tố khách quan và chủ quan, trong đó đáng chú ý là hệ thống quy trình, quy định nội bộ chưa được cập nhật kịp thời theo quy định hiện hành. Bên cạnh đó, một bộ phận cán bộ còn thiếu chặt chẽ trong quản lý và giám sát khoản vay; chưa sâu sát trong thu thập hồ sơ, chứng từ phục vụ công tác thẩm định và kiểm soát giao dịch; chưa tuân thủ triệt để quy định nội bộ cũng như quy định của Ngân hàng Nhà nước.
Về trách nhiệm, các tồn tại và hạn chế được xác định thuộc về Ban lãnh đạo chi nhánh, các phòng nghiệp vụ, phòng giao dịch và các cá nhân liên quan theo từng thời kỳ. Chánh Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 2 đã đưa ra 7 khuyến nghị cùng 11 kiến nghị yêu cầu thực hiện nhằm củng cố an toàn hoạt động.
Tăng trưởng tín dụng đi kèm rủi ro chất lượng tài sản
Public Bank Vietnam là ngân hàng 100% vốn nước ngoài, hoạt động theo Giấy phép số 38/GP-NHNN ngày 24/3/2016. Tiền thân của ngân hàng là VID Public Bank, được thành lập ngày 25/3/1992 dưới hình thức liên doanh giữa BIDV và Public Bank Berhad. Từ ngày 1/4/2016, ngân hàng chuyển đổi thành mô hình 100% vốn nước ngoài, trực thuộc tập đoàn Public Bank. Hai mảng hoạt động chính gồm ngân hàng bán lẻ và cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, với mạng lưới khoảng 40 chi nhánh và phòng giao dịch.
Giai đoạn 2016–2024, dư nợ cho vay khách hàng tăng trưởng gấp 4 lần, đạt hơn 29.000 tỷ đồng vào cuối năm 2024. Tuy nhiên, tốc độ tăng đã chững lại trong năm 2023 (tăng 5,8%) trước khi phục hồi lên 10,9% trong năm 2024.
Đáng chú ý, nợ xấu (nhóm 3–5) lại tăng gần 6 lần trong cùng giai đoạn. Trong các năm 2017–2019, quy mô nợ xấu duy trì dưới 200 tỷ đồng. Đến năm 2023, con số này tăng mạnh lên 881,5 tỷ đồng, gần gấp đôi năm trước, đẩy tỷ lệ nợ xấu lên 3,4% – mức cao nhất trong giai đoạn phân tích. Sự gia tăng chủ yếu đến từ nợ nhóm 4 (403,7 tỷ đồng) và nợ nhóm 5 (365,3 tỷ đồng). Sang năm 2024, nợ xấu tiếp tục nhích lên 913,2 tỷ đồng.
Lợi nhuận suy giảm mạnh do chi phí và dự phòng gia tăng
Theo báo cáo tài chính mới nhất, lợi nhuận trước thuế năm 2024 của ngân hàng đạt 335,8 tỷ đồng, giảm 38,6% so với cùng kỳ, tương đương giảm khoảng 211,2 tỷ đồng.
Mặc dù dư nợ cho vay tăng gần 11%, thu nhập lãi thuần lại giảm 13,1%, còn 1.287,5 tỷ đồng. Hoạt động dịch vụ mang về 48,2 tỷ đồng; kinh doanh ngoại hối ghi nhận lỗ 34,3 tỷ đồng. Tổng thu nhập hoạt động giảm 6,3%, xuống 1.383,9 tỷ đồng, trong khi chi phí hoạt động tăng 14,3%, khiến lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trước dự phòng giảm 28%.
Bên cạnh đó, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng thêm 5,2%, lên 183,2 tỷ đồng. Tỷ lệ bao phủ nợ xấu ở mức 36,1% vào cuối năm 2024, cho thấy bộ đệm dự phòng còn tương đối mỏng trong bối cảnh áp lực nợ xấu vẫn hiện hữu.
Nhìn tổng thể, các kết luận thanh tra diễn ra trong thời điểm ngân hàng đang đối mặt với thách thức kép: duy trì tăng trưởng tín dụng nhưng đồng thời phải củng cố chất lượng tài sản và hệ thống kiểm soát nội bộ. Điều này đặt ra yêu cầu siết chặt quản trị rủi ro để đảm bảo hoạt động an toàn và bền vững trong giai đoạn tới.